Léopold Michel Cadiere
Léopold Michel Cadiere
"Vì đã nghiên cứu và hiểu biết người Việt Nam, tôi đã yêu mến họ"
(Kỷ niệm 130 năm ngày sinh một thừa sai - một nhà Việt Nam học - Léopold Cadiere)
LTS. Léopold Michel Cadiere sinh ngày 14-2-1869 trong một gia đình tá điền ở Pháp. Ông đã từng đến Tây Tạng, sau đó tham gia Hội truyền giáo nước ngoài Paris (MEP) và sang Việt Nam ngay sau khi được phong linh mục (24-9-1892).
Ngày 3-12-1982, ông đến Đà Nẵng rồi được bổ nhiệm làm giáo sư một tiểu chủng viện gần Huế. Tháng 10-1895 truyền giáo tại Quảng Bình và tại đây ông đã viết tác phẩm đầu tiên về lịch sử Việt Nam: khảo về Lũy Thầy. Năm 1896 ông đã phát hiện ra động Phong Nha và tiến hành một loạt những khảo cứu về dân tộc học, phong tục tập quán và ngôn ngữ của vùng này trong đó có những dấu tích của người Chăm. Kể từ đó, bên cạnh việc thực hiện bổn phận của một thừa sai, L. Cadiere đã có nhiều cống hiến trong lĩnh vực nghiên cứu Việt Nam. Người ta đã liệt kê 248 bài viết đăng tải trên nhiều tạp chí khoa học khác nhau ở Việt Nam và nước ngoài. Tên tuổi ông đã gắn liền với tờ tạp chí khảo cứu Bulletin des Amis du Vieux Hue và Hội Đô thành Hiếu cổ, đồng thời ông cũng là thành viên của nhiều hội đoàn khoa học, cộng tác viên của Viện Hàn lâm và các bảo tàng ở Pháp...
Tên tuổi của Léopold Cadiere xứng đáng là một trong những nhà Việt Nam học lớn nhất của nửa đầu thế kỷ XX. Ông mất ngày 6-7-1955 tại Phú Cam và được an táng tại Phú Xuân - Kim Long - Huế.
Đoạn trích dưới đây là tâm sự của Léopold Cadiere nhân 50 năm ông thụ phong làm linh mục (1892-1942) cho thấy tâm cảm của ông đối với một dân tộc mà ông đã gắn bó hơn 6 thập kỷ.
XN
"Tôi hiểu người Việt Nam vì tôi đã học hỏi những gì liên quan đến họ. Ngay khi vừa mới đến, tôi đã học ngôn ngữ của họ và còn tiếp tục học cho đến ngày nay và tôi đã nhận thức ra rằng tiếng Việt rất tinh tế về mặt cấu trúc và rằng sự phong phú của nó về mặt từ vựng không được xem thường như chúng ta thường làm cho đến ngày nay.
Tôi đã nghiên cứu tín ngưỡng của họ, các thực hành tôn giáo, các phong tục, các tập quán của họ và tôi thấy rằng dân tộc Việt Nam rất thâm sâu về tôn giáo, rằng các tín ngưỡng của họ rất thuần khiết và rằng khi họ chạy đến với Trời, khi họ tế Trời, có lẽ họ cũng hướng đến cùng một Đấng Toàn Năng mà tôi tôn thờ dưới danh gọi Thiên chúa, và do đó, họ đã lưu giữ trong chốn thâm sâu của tâm thức tia lửa tôn giáo tự nhiên mà Đấng Tạo Hóa đã đặt để trong mọi sinh vật có lý trí.
Tôi đã nghiên cứu lịch sử của họ và tôi đã thấy rằng, trong suốt nhiều thế kỷ, đặc biệt từ khi thành lập triều Nguyễn, dân tộc Việt Nam từ khi khởi thủy của mình, đã đứng vững nhờ có nhận thức cao về phát triển và tiến bộ mà họ đã đeo đuổi và thực hiện với sự dũng cảm to lớn, với sự thích nghi mềm dẻo với những hoàn cảnh khác nhau mà họ gặp phải trên con đường của mình.
Và vì đã nghiên cứu và hiểu biết người Việt Nam, tôi đã yêu mến họ.
Tôi đã yêu mến họ vì sự thông minh tốt đẹp của họ, vì trí óc sắc sảo của họ.
Tôi đã yêu mến họ vì những nhân đức luân lý của họ. Từng là con của một nông dân và từng sống giữa những người nông dân Việt Nam, tôi cảm nhận rằng người nông dân Pháp và người nông dân Việt Nam giống nhau một cách kỳ lạ: ở đây cũng như ở bên kia, họ đều có những ý tưởng nhỏ mọn về cuộc sống thường nhật, về đồng áng, về chợ búa, về bữa cơm hàng ngày, về làng xóm; nhưng ở đây và ở bên kia là những tình cảm lớn, tình yêu gia đình sâu sắc, sự cứu giúp và tương trợ lẫn nhau, sự lao động cần cù, sự nhẫn nhục trong cuộc sống nghèo khó và khắc khổ thường nhật của họ.
Tôi đã yêu mến họ vì tính tình của họ. Trước đây khi đi đây đi đó trên cáng hay trên thuyền, tôi đã thấy và đã ngưỡng mộ niềm vui sống, sự vui vẻ và tính bốc đồng của những người khiêng cáng hay của những người chèo thuyền, tuy họ đang phải lao động vất vả trong nhiều giờ liền hay trong suốt cả ngày.
Và cuối cùng, tôi đã yêu mến họ vì những bất hạnh của họ. Biết bao đau khổ, bao cực nhọc, bao nghèo túng, nỗi nghèo túng đôi khi cũng tương xứng nhưng thường là hậu quả của một số phận và định mệnh mù quáng"
(Bản dịch của Vương Đình Chữ trên Công giáo và Dân tộc số Xuân Kỷ Mão, 1999).
Số lượt đọc: 429 - Cập nhật lần cuối:
SỰ KIỆN TIÊU BIỂU
Thành lập Cục Thông tin Liên lạc thuộc Bộ Tổng Tư lệnh
Nghị định số 123/NĐ Bộ trưởng Quốc phòng - Tổng Tư lệnh thành lập Cục Thông tin liên lạc thuộc Bộ Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam. Nhiệm vụ: Tham mưu cho Bộ Tổng tư lệnh về thông tin liên lạc; tổ chức giữ vững thông tin liên lạc từ Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Tổng tham mưu đến các chiến trường, các đơn vị trong toàn quân; trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy các đơn vị thông tin liên lạc thuộc Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh; thống nhất tất cả các lực lượng thông tin liên lạc ở cơ quan Bộ Quốc phòng, Sở Vô tuyến điện Việt Nam về Cục. Về tổ chức biên chế Cục gồm: Phòng Thông tin liên lạc Bộ Tổng tham mưu, Ban liên lạc đặc biệt Trung ương, Ban liên lạc nội bộ Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh, Ban liên lạc nội bộ, Đội Vô tuyến điện, Sở Vô tuyến điện Việt Nam. Cục trưởng: Hoàng Đạo Thúy.
Những người bạn của website
Liên kết website
Bản quyền thuộc về Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (VAHS)
Giấy phép số 327/GP-BC của Cục Báo chí - Bộ Văn hóa Thông tin cấp ngày 30/7/2007
Trụ sở: Số 216 Trần Quang Khải, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Điện thoại: (04) 39369089 / Fax: (04) 38256588.
Chịu trách nhiệm nội dung: Dương Trung Quốc
Thư ký biên tập: Trần Xuân Thanh
Mọi ý kiến phản hồi trên trang xin vui lòng gửi tại đây

